PDA

View Full Version : Nghệ thuật Phục hưng Tiếp thu nền nghệ thuật nào ?



nguyenduyly
17-08-2010, 08:53 PM
hix sau rất nhiều ngày làm việc , mình đã hoàn thành bài tiểu luận về "nền nghệ thuật phục hưng , tiếp thu và chụi ảnh hưởng của nền nghệ thuật nào "
Mời các bạn cùng đọc và bình luận để làm rõ vấn đề này nhé !




BÀI TẬP MÔN LỊCH SỬ THẾ GIỚI

ĐỀ BÀI : Anh ( chị ) hãy cho biết nền mỹ thuật phục hưng tiếp thu nền nghệ thuật nào ? nêu 1 số tác giả và tác phẩm tiêu biểu .

Bài Làm .
Nói tới nền nghệ thuật thời phục hưng Ý thì cả là một vấn đề to lớn và hoành tráng vô cùng .Nền mỹ thuật phục hưng đã đạt tới độ hoàn thiện, mẫu mực, đỉnh cao về nghệ thuật .
Danh từ “ Phục Hưng “ ( Renaissance ) theo tiếng pháp có nghĩa là sự tái sinh hay hồi phục . Quan niệm sự tái sinh nghệ thuật , sự hồi sinh của tất cả những gì cao cả và vĩ đại được thể hiện ở nơi nghệ thuật phát triển mạnh mẽ nhất là ở Phờ - lo- răng –xơ ( Florence ) .Người Ý cho rằng nền nghệ thuật vẻ vang của họ thời La Mã cổ đại đã bị người Goth Phá hủy cùng với việc làm sụp đổ La Mã . Vì vậy sứ mệnh cảu họ là phải làm cho nghệ thuật được hồi phục , được sống lại .Vào đầu thế kỉ 14 các nghệ sĩ Ý đã quyết tâm tạo ra một nền nghệ thuật mới , khác xa với nền nghệ thuật thời trung cổ ( Middle –Age ). Cùng với sự tái sinh của mĩ thuật còn có sự tái sinh của văn chương ,thuyết tâm linh …Từ đó làm nảy sinh một làn sóng mới về nghệ thuật và văn học .Phong trào văn hóa mới này được gọi là phong trào văn hóa “ Phục Hưng “ .
Thời kỳ Phục Hưng được gọi như thế vì đặc tính cơ bản của thời kỳ này là sự hồi sinh của tinh thần thời kỳ Cổ đại. Chủ nghĩa Nhân văn chính là phong trào tinh thần cơ bản của thời kỳ này. Việc hồi sinh thể hiện ở chỗ nhiều yếu tố của tư tưởng thời kỳ Cổ đại được tái khám phá và sống lại (văn học, tượng đài kỷ niệm, tác phẩm điêu khắc, triết học,...).
Về mỹ thuật thời kì phục hưng , những tên tuổi như Filippo Brunelleschi, Lorenzo Ghiberti và Donatello là những người mở đường cho hướng đi mới trong nghệ thuật có tiền thân là Nicola Pisano, Giotto di Bondone và những nghệ sĩ khác. Nói chung, ở Ý thời gian khoảng từ 1420 đến 1600 được gọi là thời kỳ Phục Hưng, trong châu Âu còn lại là thời gian từ 1500 đến 1600.
Bên cạnh sự mô phỏng theo nghệ thuật Cổ đại là việc nghiên cứu thiên nhiên tích cực hơn, một khía cạnh quan trọng trong lịch sử phát triển của nghệ thuật Phục Hưng. Ngay trước Vasari, nhiều nhà thơ như Boccaccio đã khen ngợi họa sĩ Giotto có thể vẽ lại sự vật giống như trong tự nhiên mà không có ai trước ông đạt được. Xu hướng tạo hình sự vật và con người theo tự nhiên từ đấy là một trong những ý muốn chính của các nghệ sĩ. Thế nhưng phải đến thế kỷ 15 thì các nghệ sĩ mới đạt được đến một cách miêu tả theo tự nhiên gần như hoàn hảo. Vì thế mà các sử gia về nghệ thuật thường giới hạn khái niệm Phục Hưng cho các miêu tả nghệ thuật trong thế kỷ 15 và thế kỷ 16.
Gắn liền với yêu cầu tự nhiên trong nghệ thuật là sự tôn vinh thời kỳ Cổ đại của các nghệ sĩ. Người ta ngưỡng mộ các tác phẩm nghệ thuật thời Cổ đại như là các thí dụ điển hình trong việc miêu tả theo tự nhiên và vì thế là các thí dụ đáng được mô phỏng theo trong lúc tự diễn đạt tự nhiên. Ngoài ra nhà lý thuyết về kiến trúc người Ý, Leone Battista Alberti, còn đòi hỏi các nhà nghệ thuật "không những ngang bằng với các danh nhân thời kỳ Cổ đại mà còn phải cố gắng vượt lên trên họ". Tức là nghệ thuật không những phải diễn đạt lại một cách trung thực thực tế mà còn phải cố gắng cải thiện và làm hoàn hảo tấm gương của tự nhiên.
Bên cạnh xác định mới về quan hệ của nghệ thuật đối với tự nhiên và việc ngưỡng mộ thời kỳ Cổ đại, thời kỳ Phục Hưng cũng đặt câu hỏi về bản chất của cái đẹp. Các nghệ sĩ cố gắng diễn tả một con người đẹp toàn hảo. Kích thước và tỉ lệ lý tưởng đều đóng một vai trò trong việc diễn tả cơ thể con người trong hội họa và điêu khắc cũng như trong phác thảo kiến trúc. Với cách phối cảnh cổ điển các nghệ sĩ đã phát triển một phương pháp để diễn tả sự rút ngắn trong chiều sâu không gian với tính chính xác của toán học.
Thông thường người ta chia thời kỳ lịch sử nghệ thuật Phục Hưng, đặc biệt là Phục Hưng Ý, ra làm 3 giai đoạn :
Sơ Phục Hưng (tiếng Anh: Early Renaissance)
Thịnh Phục Hưng (tiếng Anh: High Renaissance)
Hậu Phục Hưng hay Mannerism .
Giai đoạn đầu của thời kỳ Phục Hưng (từ khoảng 1420 đến 1490/1500) khởi điểm từ thành phố Firenze (tiếng Anh: Florence) với những bức tượng của Donatello, tranh phù điêu đồng của Ghiberti, bích họa của Masaccio và các công trình xây dựng của Filippo Bruelleschi.
Thời gian từ khoảng 1490/1500 cho đến 1520 là đỉnh cao của thời kỳ Phục Hưng. Trung tâm của thời kỳ vươn đến hoàn mỹ và hài hòa cao độ này là thành phố Roma của giáo hoàng. Đây là thời gian của phác thảo kiến trúc cho nhà thờ thánh Peter ở Roma của Bramante, các bức họa nổi tiếng nhất của Leonardo da Vinci, của Raffaello, các bức tượng và bích họa của Michelangelo cũng như các tác phẩm khắc đồng của Albrecht Dürer. Sau đó là thời kỳ Hậu Phục Hưng hay Mannerism với đặc trưng là có nhiều xu hướng nghệ thuật khác nhau. Mannerism có khuynh hướng cường điệu hóa kho tàng hình dáng của Phục Hưng (thí dụ như diễn tả cơ thể con người được kéo dài ra và uốn cong trong một cử động mạnh). Giai đoạn cuối của thời kỳ Hậu Phục Hưng dần dần chuyển sang phong cách Baroque.
Thế nhưng thời kỳ Phục Hưng không diễn ra theo một khuôn mẫu hoàn toàn giống nhau trên khắp châu Âu. Trong khi tinh thần Phục Hưng bắt đầu rất sớm và đặc biệt nở rộ ở Ý, có ảnh hưởng đều khắp trong hội họa, điêu khắc và kiến trúc thì mãi đến khoảng năm 1500 hay sau đó thời kỳ Phục Hưng mới bắt đầu ở phía Bắc của châu Âu và cũng chỉ chiếm ưu thế một phần, đồng thời mang nhiều tính cách dân tộc. Trong các quốc gia khác ngoài Ý kiến trúc và điêu khắc chịu ảnh hưởng nhiều hơn là hội họa. Tại Pháp và Đức phong cách cổ đại được hòa trộn với nhiều yếu tố dân tộc, nổi bật trong thời kỳ đầu của Phục Hưng hơn là trong thời kỳ Hậu Phục Hưng, thời kỳ mà hình dáng được thể hiện đầy đặn và mạnh mẽ hơn, chuyển đến cường điệu hóa của phong cách Baroque. Phong cách Phục Hưng tại Hà Lan, Ba Lan, Anh và Tây Ban Nha cũng mang sắc thái dân tộc.
Về hội họa
Hội hoạ thời Phục Hưng ở Ý .
Chúng ta sẽ thấy rằng, nghệ thuật của Byzance, và của Kitô giáo ở phương Đông, nói chung, đặc biệt là nghệ thuật tranh thờ vẽ trên nền gỗ (icônes) và các bức tiểu hoạ (miniatures), sẽ có một ảnh hưởng trực tiếp lên nền hội hoạ ở Ý vào thời kỳ tiền phục hưng và phục hưng, bắt đầu từ các hoạ sĩ của trường phái Siena và các hoạ sĩ ở Firenze như : Pisano, Berlinghieri, Cimabue, Duccio di Buoninsegna, Simone Martini, v.v. Ảnh hưởng này tích cực chủ yếu về mặt thẩm mỹ. Còn về nội dung, đặc biệt về mặt hiệu quả truyền đạt các thông điệp, nhằm giáo dục quần chúng, thì theo sự đánh giá của Roger Bacon (1219-1292), một nhà khoa học, thày tu dòng thánh Phan-xi-cô, người sẽ có một vai trò hàng đầu trong giáo hội về mặt thẩm định nghệ thuật Kitô giáo, thì các tác phẩm này còn bị hạn chế và chưa đạt yêu cầu.
Hội hoạ tiền phục hưng Ý
Vào những năm 60 của thế kỷ XIII, Roger Bacon, đã đưa ra nhiều ý tưởng mới mẻ, làm đảo lộn hoàn toàn các quy tắc và tiêu chuẩn từ trước tới nay vẫn đuợc áp dụng trong nghệ thuât hội hoạ Kitô giáo. Ông đã vạch ra khuyết điểm quan trọng nhất của nền hội hoạ này, là sự không sáng sủa của các hình tượng và của cách diễn đạt, do đó đã không đáp ứng được nhu cầu giáo dục quần chúng. Đây không phải chỉ là do các hoạ sĩ, mà do chính những người đặt hàng cho các hoạ sĩ, những người có trách nhiệm trong giáo hội. Phong cách mà ông đề nghị là một phong cách được gọi là " tự nhiên ", không công thức, không cách điệu hoá như phong cách Kitô giáo nguyên khai, và phong cách Byzantin nữa. Điều mới mẻ quan trọng nhất, mà theo ông, cần đưa vào áp dụng trong hội hoạ Kitô giáo, là sự hiểu biết và cảm nhận sâu sắc thế giới tự nhiên và các truyện tích trong Kinh Thánh, mà các danh hoạ như Jacopo Torriti, như Giotto, học trò của Cimabue, sẽ là những người diễn dịch tài tình nhất.
http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L436xH709/ducbabyzance-22cae.jpg

Đức Mẹ và chúa Giêxu (phong cách Byzantin, 1280)

Thời Phục Hưng ở Ý bắt đầu với thế kỷ XV (người Ý gọi là Quatrocento - 1400), nhưng thực ra nó đã nẩy mầm ngay từ thời Tiền Phục Hưng, với những bức bích hoạ đầu tiên do Giotto thực hiện ở nhà thờ Santa Maria dell’Arena ở Padoue (1305), đem đến một phong cách hoàn toàn mới mẻ, và những ý tưởng nghệ thuật độc đáo, trùng hợp với những ý tưởng đã được Roger Bacon đề xướng và thực hiện ở Assise
Vào thời kỳ này, khi khen một hoạ sĩ nào, người ta thường có thói quen nói rằng : tác phẩm của hoạ sĩ đó có thể sánh ngang với "người xưa", người xưa đây là những hoạ sĩ Hy Lạp, La Mã cổ điển.
Khái niệm "phục hưng" ở nơi người Ý đương thời, chính là để nói lên cái ý tưởng "khôi phục" lại ưu thế của La Mã về mặt văn hoá vào thời kỳ oanh liệt nhất, trước khi bị giặc Goth xâm lược ở thế kỷ VI, trong khi đối với người Âu châu, nói chung, thời kỳ Phục Hưng có một ý nghĩa rộng hơn : đó là thời kỳ người ta muốn quay trở lại với những quy tắc nghệ thuật cổ điển Hy-Lap, sau khi đã trải qua thời kỳ Trung cổ với các nền nghệ thuật rômăng, gôtích…

http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L300xH239/1455_Paolo_Uccello_St_George-2d7e7.jpg

Uccello “Thánh George giết rồng 1455” .
Giotto là người hoạ sĩ đầu tiên đã đem lại một phong cách hội hoạ Kitô giáo mới mẻ, tuy khác hẳn với phong cách byzantin, nhưng lại vẫn như có một cái gì đó rất khoẻ mạnh trong nét vẽ.


http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L500xH471/giotto-02226.jpg

Giotto -Đám tang chúa 1306
Người hoạ sĩ tài hoa nhất sau Giotto, người đã mang đến một phong cách hội hoạ tôn giáo mới mẻ khác, là Masaccio (1401-1428), với bức bích hoạ đầu tiên sử dụng phép vẽ phối cảnh, đó là tác phẩm mang tên "Tam vị Nhất thể, Đức Mẹ, Thánh Jean và các nhà hảo tâm" (1425-1428), Adam và Eve bị đuổi khỏi địa đàng (1425)

http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:rKCe4kLc0xqihM::&t=1&usg=__3D7C02trgad8VZPOQPweqNAPqRI=



Masaccio “Adam và Eve bị đuổi khỏi địa đàng “(1425).

Thời Phục Hưng có lẽ là thời kỳ nghệ thuật Kitô giáo đã sản sinh ra nhiều tài năng hội hoạ nhất ở hầu khắp mọi nước Âu châu, nhiều nhất là ở Ý, với : Masaccio, Fra Angelico, Paolo Uccello, Piero della Francesca, Filippo Lippi, Ghirlandaio, Botticelli, Pietro Purigino, Raphael, Leonardo da Vinci, Michelangelo, v.v. ; ở Hà Lan, với : Jan van Eyck, Van der Weyden, Petrus Christus, Hans Memling, Hugo Van der Goes, Gerard David, và cả một trường phái được gọi là "trường phái nguyên khai Flamand" ; ở Pháp, với : Jean Fouquet, Engerrand Quarton, và ba anh em Limbourg ; ở Đức, với : Stefan Lochner, Albrecht Durer ; ở Bồ Đào Nha, với : Nuno Gonçalves, v.v

Hội hoạ thời Phục Hưng ở Hà Lan và ở Pháp :

Người ta thường chỉ hay nói nhiều đến nền hội hoạ "Phục Hưng Ý", nhưng thực ra, cùng trong thời kỳ này, ở Âu châu, còn có ít nhất hai nền hội hoạ khác cũng quan trọng không kém, về mặt nghệ thuật thuần tuý. Đó là nền "hội hoạ nguyên khai Flamand" ở xứ Flandre, xưa kia thuộc Hà Lan, nay thuộc Bỉ, mà tính chất hiện thực còn vượt xa hơn cả nền hội hoạ phục hưng Ý, và nền "hội hoạ quốc tế" chủ yếu đã phát triển ở Pháp và ở Anh, dưới dạng các tranh tiểu hoạ, dựa trên truyền thống hội hoạ rômăng và gôtích.


http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L200xH265/Vincent-26331.jpg




1495 Nuno Gonçalves: Thánh Vincent
Jan van Eyck (1390-1441), là một trong những hoạ sĩ xuất sắc nhất của "trường phái nguyên khai Flamand", tác giả của nhiều tác phẩm sơn dầu nổi tiếng, như : "Con cừu huyền thoại - L’Agneau mystique" (1432), "Giovanni Arnolfini và phu nhân" (1434), "Đức Mẹ ở Chanoine Van der Paele" (1436). Chính ông là người đầu tiên đã chế ra chất sơn dầu để thử nghiệm trên các tác phẩm của mình. Ông đã dùng dầu thay thế cho lòng trắng trứng, để cho màu đỡ bị khô, mà lại óng mượt hơn, trong hơn.

http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L472xH663/janvaneyck-ded4b.jpg


Jan van Eyck: Giovanni Arnolfini và phu nhân (1434)
Vào những năm này, lần đầu tiên, người ta thấy xuất hiện những bức hoạ mà nội dung không có tính chất tôn giáo. Bức hoạ "Giovanni Arnolfini và phu nhân" của Jan van Eyck, hoàn toàn không có ý nghĩa tôn giáo, cũng như bức hoạ "Trận chiến San Romano" (1450) của Paolo Uccello, một hoạ sĩ gốc Ý, người tỉnh Firenze.

Chúng ta thấy rằng nghệ thuật hội hoạ thời Phục Hưng rồi ra sẽ phát triển theo hướng này, trải qua các thời kỳ barốc, cổ điển, v.v. cho đến mãi sau này cũng vẫn giữ cái phương châm ấy : đưa những chi tiết hiện thực của đời sống vào hội hoạ, dù là hội hoạ tôn giáo, hay chỉ là những truyện tích thần thoại, lịch sử, hoặc những cảnh sinh hoạt đời thường. Mục đích của nghệ thuật không còn giới hạn vào việc minh hoạ những truyện tích có tính chất tôn giáo nữa, mà người hoạ sĩ còn có sứ mệnh phản ánh cái thế giới xung quanh mà mắt mình nhìn thấy. Phải chăng, lý tưởng nghệ thuật không còn chỉ là đức tin nữa, mà đã trở thành lý tưởng về một cái đẹp tuyệt đối ?
Các tác phẩm này có những màu sắc nhẹ nhàng, tươi mát, nét vẽ tế nhị, cách bố cục trang trọng, và đây đó cũng dùng chất liệu vàng kim, không khỏi làm cho người ta nghĩ đến nền hội hoạ gôtích, mà chắc hẳn nó đã chịu ảnh hưởng trực tiếp, cũng như nó không khỏi làm cho người ta nghĩ đến những bức bích hoạ và một hai bức hoạ vẽ trên nền gỗ của Fra Angelico, cũng với những màu sắc nhẹ nhàng ấy và phong cách ấy vài chục năm sau, tuy rằng Fra Angelico vẫn có những nét độc đáo riêng của mình, không thể nào nhầm lẫn được (ví dụ như tác phẩm "Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh-1435).

http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:fvijOEvmmvwN2M::&t=1&usg=__EmfwbWQ-8HY9-qS0InmFIQOOCHw=


Fra Angelico: Lễ đăng quang Đức Mẹ Đồng Trinh, 1434-1435.
Điêu khắc:
Cùng với sự đổi trong hội họa , điêu khắc cũng có những thành tựu lớn.Những nhà điêu khắc danh tiếng của thời kì này là Lô-ren-giô Ghi-béc-ti với tác phẩm Hai cánh cửa rửa tội , ở Phờ -lo-răng-xơ , Đô-na-ten-lô với pho tượng “ Vị thủ lĩnh Gát- ta-mơ-la-ta, ĐaVit.. Vê-rô-ki-ô Với các pho tượng kị mã nổi tiếng , micchel Ange buonarroti với các tác phẩm như là Đa Vít tượng đá cẩm thạch , Pi-ét-ta …
Chúng ta có thể thấy rằng , ở thời kì cổ điển , Pô-li-clet đã dành thời gian , sự nghiệp nghiên cứu sáng tạo của mình cho việc tìm ra tỉ lệ chuẩn cân đối , hài hòa của cơ thể nam giới .một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là tượng Đô-ri-pho, pho tượng có tỉ lệ 7 đầu , điều đáng nói ở đây là sự hài hòa của các tỉ lệ giữa đầu , thân , tay , chân, sự mềm mại sống động của hệ thống cơ. Nếu Đô-ri-phô của Pô-li -clét có tỉ lệ 7 đầu thì tượng A-Pô-xi-ô-men có tỉ lệ 8 đầu , mang vẻ đẹp thanh mảnh hơn , đầu nhỏ thân dài.
Cho đến thời kì Phục Hưng các nhà điêu khắc đã dựa theo chuẩn mực này để nghiên cứu và đưa ra tỉ lệ vàng của cơ thể con người đó là 7.5 đầu Các nghiên cứu về giải phẫu học được dùng để miêu tả lại cơ thể con người giống như trong thực tế. Ngoài các phù điêu đề tài tôn giáo , gắn với các công trình kiến trúc tôn giáo , Các nhà điêu khắc Phục Hưng còn sáng tạo nhiều nhất là những tượng đứng và tượng bán thân.Hầu hết các bức tượng đều là tượng tròn.
Ở thời kỳ Phục Hưng trên các quảng trường thành phố là các tượng đài kỷ niệm thí dụ như các tượng kỵ sĩ. Mộ bia cho danh nhân trong và ngoài đạo liên kết tượng cùng với kiến trúc trở thành một tác phẩm nghệ thuật.


http://www.vuontaodan.net/forums/upfiles/2/F18B5EB2E70B45458098CA6996A3C68F.JPG




Kỵ sĩ Gattamelata ở Padoue.
tượng đài kỵ sĩ Gattamelata ở Padoue phỏng theo tượng đài kị sĩ Macr Aurèle thời La mã, có cá tính hơn..
Các nhà điêu khắc Phục Hưng hướng về các tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ Cổ đại khi sáng tác. Bức tượng được làm mô hình toàn diện, con người được biểu diễn khỏa thân, tư thế hai chân thường là theo kiểu Contrapposto cổ điển.


http://t3.gstatic.com/images?q=tbn:12iT7XqksPuP2M::&t=1&usg=__59skh2U8Bxq1WdlHTqRePerR2bc=



Tượng ĐaVit - micchel Ange.
Một mẫu mực hoàn thiện của vẻ đẹp cơ thể con người , điều này đúng cả về nghĩa đen và bóng .
Kiến trúc :
Về nguyên tắc có thể phân biệt hai xu hướng khác nhau trong kiến trúc Phục Hưng. Một xu hướng hồi sinh các đường nét thời kỳ Cổ đại một cách
nghiêm khắc. Tại Ý, Donato Bramante đã đạt đến mục tiêu này trong đỉnh cao của thời kỳ Phục Hưng vào khoảng năm 1500 và từ đó chiếm lĩnh ưu thế trong kiến trúc trên toàn nước Ý. Các công trình xây dựng Phục Hưng ở Ý được phác thảo trong sáng và hài hòa cân đối. Trong sơ đồ mặt bằng các kiến trúc sư hướng về các hình dáng đơn giản lý tưởng trong hình học như hình vuông hay hình tròn. Các chi tiết kiến trúc như cột, trụ bổ tường, đầu cột, đầu hồi tam giác,... đều trực tiếp dựa vào kiểu mẫu thời Cổ đại. Bên cạnh đó là các phát triển mới dẫn xuất từ khuôn mẫu của thời kỳ Cổ đại. Tất cả các phần xây dựng riêng lẻ đều phải được hòa hợp với nhau và với toàn bộ tòa nhà. Các luận thuyết kiến trúc của nhà xây dựng nổi tiếng người La Mã Vitruvius được tham khảo để tìm ra những tỷ lệ tương quan lý tưởng.
Xu hướng thứ hai tuy cũng dựa vào thời kỳ Cổ đại nhưng biến đổi hình dáng các yếu tố xây dựng tương tự như nghệ thuật xây dựng thời Trung cổ, không vươn đến một nghệ thuật xây dựng theo các định luật một cách nghiêm ngặt.
Nói chung khi nền văn hóa càng bám rễ sâu trong thời Trung cổ mang dấu ấn của miền Bắc châu Âu thì phong cách kiến trúc tương tự của Phục Hưng càng mạnh, tức là trước tiên là ở vùng Trung Âu và Bắc Âu. Trên bán đảo Iberia hai xu hướng này tồn tại bên cạnh nhau cho đến thời kỳ Baroque. Tại vùng châu Âu của Đức và Ba Lan hai xu hướng này được trộn lẫn một phần (thí dụ như lâu đài Heidelberg (Đức) hay lâu đài tại Wawel, Kraków (Ba Lan), thế nhưng xu hướng tương tự vẫn chiếm ưu thế cho đến thời gian cuối.
Fillipo Brunelleschi (1377-1446) được coi là kiến trúc sư lớn nhất của Florence, ông là tác giả của nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng như mái vòm nhà thờ Santa Maria del Fiore, Dục anh viện, Nhà thờ S. Lorenzo, đền thờ Pazzi,…



http://www.vinamilkcafe.com.vn/upload/images/0dentho_pazzi.jpg



Giáo đường Pazzi , Phờ -lo -răng-sơ
Bru –nen –chi ( thiết kế khoảng 1430 ).
Kiến trúc giáo đường Pazzi là sự kết hợp thể thức kiến trúc trung cổ ( Gô-tích) với nghệ thuật kiến trúc La Mã. Trong thiết kế vị trí quan trọng cho nóc tròn trên đồ án hình vuông . Chòm cột nhỏ ở nhà thờ Gootich được thay thế bằng trụ vuông hay cột tròn to. Vòm bán nguyệt trong kiến trúc Rô-Măng được thay thế bằng vòm hỗn hợp cung tròn và nhọn của Rô Măng và Gô tích. Sang nửa thế kỷ 15 phong cách kiến trúc thời kỳ đầu từ phờ-lo-răng-xơ được lan truyền đến các trung tâm khác của Ý như Vơ-ni-rơ . Trong phong cách cũng có sự thay đổi bởi sựu tĩnh lặng , nghiêm trang thoáng đạt hơn và trang trí nhiều hơn.
Công trình đầu tiên đem lại vinh quang cho tên tuổi của Brunelleschi và cũng chính là công trình mở đầu cho thời đại Phục Hưng huy hoàng chính là vòm mái của nhà thờ Florence.



http://www.artcyclopedia.org/art/filippo-brunelleschi-duomo.jpg



Nhà thờ Santa Maria del Fiore (Duomo) mang phong cách Gotic.


http://www.hau.edu.vn/Tinchuyennganh/cn_013/Duomo2.jpg


Mặt tiền nhà thờ Duomo
Khác với kiến trúc Gotic coi trọng kết cấu, kiến trúc phục hưng thời kỳ này chỉ chú ý đến tổ hợp công trình, như Dục Anh Viện và lâu đài Medici chẳng hạn.
Nếu như mái vòm nhà thờ Florence mở đầu cho thời kỳ Phục Hưng, tiếp tục hoàn tất công trình dang dở của thời đại trước, thì công trình Dục Anh Viện ở Florence của Brunelleschi được coi như công trình trọn vẹn đầu tiên được thiết kế trong thời kỳ này.
Dục Anh Viện (hay nhà thương phúc trẻ em) là tác phẩm kiến trúc Italia đầu tiên cố gắng rời bỏ hình thức cũ, do kiến trúc sư lớn nhất của Florence là Brunelleschi (1377-1446) xây dựng vào những năm 1421- 1424.
Đó là một công trình kiểu sân trong, có bộ phận đáng chú ý nhất là hành lang cột Corin hướng ra quảng trường Annundiata, một quảng trường thương nghiệp của thành phố.
Hình thức của hành lang cột này gần gũi với kiến trúc cổ điển ở chỗ dùng hành lang cuốn nửa tròn, có phân vị đơn giản, rõ rang và hoà hợp.Công trình không nặng nề như kiến trúc cổ điển mà nhẹ nhàng, sáng sủa, qua đó ta có thể thấy ảnh hưởng của kiến trúc Gotic vẫn còn lưu lại phần nào .




http://i242.photobucket.com/albums/ff54/Hungerity/Hosp-Innocenti-BR800.jpg


Mặt tiền Dục Anh Viện (Foundling Hospital)
Trong hai công trình nhà thờ S. Lorenzo và S. Spirito, Brunelleschi đã kết hợp hài hoà các yếu tố truyền thống với những tỷ lệ toán học cân đối, chuẩn mực, các vòm cuốn được sử dụng như những modul trong tổ chức không gian công trình. Trong thiết kế nội thất hai nhà thờ này ông đã khéo léo vận dụng nhiều yếu tố kiến trúc cổ điển như: thức cột corin, mái vòm bán cầu… tạo nên vẻ đẹp hoàn hảo cho không gian nội thất công trình.


http://i242.photobucket.com/albums/ff54/Hungerity/san-lorenzo-cloister-58_3.jpg

Sân trong nhà thờ San Lorenzo



Một số tác giả , tác phẩm tiêu biểu thời kì phục hưng :

Họa sĩ Giotto di Bondine ( 1267-1337 )
Giotto di Bondone (sinh 1267 - mất 8 tháng 1/ 1337), được biết đến với cái tên đơn giản Giotto, là một họa sĩ và kiến trúc sư người Ý. Ông được coi là một trong những hoạ sĩ vĩ đại nhất thời kỳ Phục hưng Ý. Xi-ma-bu-ê là thầy của Ông , sau này đã cùng ông tạo ea một sự thay đổi lớn trong hội họa
Theo E.H gom –brich trong sách Câu truyện nghệ thuật ( Lê sĩ Tuấn biên dich-NXB Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh ) Gốt-tô là một thiên tài đã phá vỡ vòng kim tỏa của nghệ thuật Bi- dăng –tanh và thoát ra, mạo hiểm dấn thân vào một thế giới mới , đã chuyển dịch từ hình tượng sống dộng của nghệ thuật điêu khắc Gô-tich và trong hội họa .,Sự tìm tòi có tính cách mạng về hình khối cùng với cách mô tả không gian nặng tính kiến trúc và hiện thực của ông đã giúp cho hội họa phương Tây đạt được một bước tiến lớn. Phong cách vẽ của Giotto đã gây ảnh hưởng mạnh tới Michelangelo, người sinh ra sau khi ông qua đời gần 140 năm.Khi nhận xét về Giôt-tô , Đăng-tơ(Dante ) một thi sĩ thời Phục Hưng đã ca ngợi ông là nghệ sĩ hạng nhất hay nhà văn Bôc-ca-xi-ô coi ông là người đã mang nghệ thuật hội họa” ra trước ánh sáng” sau hàng thế kỉ “ tăm tối ‘.
Các tác phẩm tiêu biểu :
Bộ tranh trong nhà thờ A-rê-na ở Pa-đua có thể coi là những tác phẩm nổi tiếng nhất của Giôt-tô .Trong tác phẩm lớn đó ông vẽ những truyền thuyets về cuộc đời của đưc mẹ Ma-ri-a , sự tích về chúa Gie-su và những nỗi thống khổ mà chúa phải chụi đựng , hay cảnh ngày phán xét cuối cùng , đám tang chúa…
http://conggiao.org/images/12thanhtongdo/Judas.jpg


Phản bội chúa .Tranh của Giôt-tô ,1306
(trích từ bộ tranh tường trong nhà thờ A-rê-na ở Pa-đua ).
Trong Phản bội chúa Giốt-tô diễn tả lúc chúa giê-su bị giu-đa phản bội . Tác phẩm thành công ở cách họa si dienx tả sự lộn xộn của đám đông lính vây quanh chúa . Đặc biệt là nhân vật Giu-đa.Trung tâm của tranh là hình tượng Giu-đa dang ôm Chúa với tà áo màu vàng sáng, Gui-đa trở thành ddiemr hút mắt của người xem. Giấu trong tà áo đẹp đẽ ấy là một tâm hồn xấu xa , phản trắc.Bằng sự tương phản mang tính minh bach, rõ ràng nhất .Ngoài ra tác phẩm còn cho ta thấy sự cách tân trong cách thể hiện con người , ánh sáng và sự cân đối hài hòa về sắp đặt màu sắc bố cục.
Ngoài việc diễn tả vẻ bề ngoài , Giôt-tô đã chú ý đến sự biểu hiện của nội tâm , vẻ đau đớn , buồn bã , than khóc trước sự mất mát “Đám tang chúa(1306) “

http://htx.dongtak.net/local/cache-vignettes/L500xH471/giotto-02226.jpg


Giôt-tô -Đám tang chúa(1306)
Tranh bích họa trong nhà thờ A-rê-na ở Pa-đua
Họa sĩ Đô-na-ten-lô ( Donatello 1386 -1466 ) .
Donatello (Donato di Niccolò di Betto Bardi, sinh khoảng 1386 - mất 13 tháng 12 năm 1466) là một nghệ sĩ, nhà điêu khắc Ý nổi tiếng, gương mặt quan trọng của thời kỳ Phục Hưng. Cuộc đời ông gắn liền với thành phố quê hương phờ-lo-răng-xơ.Tuy vậy với những đơn đặt hàng ở nhiều nơi , nên ông cũng có nhiều dịp đến và làm việc ở nhiều thành phố khác của Ý , nhất là ở Pa-đu-a . Năm 1406, khi mới 20 tuổi, Donatello đã có may mắn được tham gia trang trí cho nhà nguyện Santa Maria Del Fiore cùng Nanni Di Banco. Đây là công trình rất phức tạp đòi hỏi độ chính xác và tỉ mỉ cũng như thái độ làm việc cầu thị. Nanni Di Banco khi đó đã là một nhà điêu khắc rất
nổi tiếng, ông yêu cầu ở Donatello sự tuyệt bích trong công việc. Khi chọn Donatello làm phụ tá, Nanni đã nghĩ thầm: “Chàng trai trẻ này sẽ có một tương lai huy hoàng.”, dù vậy ông vẫn luôn nhắc nhở Donatello phải thận trọng và khiêm tốn. Chính nhờ quá trình trui rèn và học hỏi bên cạnh người thày Di Banco, Donatello chững chạc hơn rất nhiều. Các tác phẩm của ông về sau không chỉ thể hiện óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo mà còn cho thấy trách nhiệm nghề nghiệp rất cao. Trong sự nghiệp của mình, Donatello tập trung chủ yếu vào việc sáng tác phù điêu và đúc tượng. Các tác phẩm của ông xoay quanh đề tài tôn giáo , đề tài phổ biến khi đó nhưng những nét tươi mới luôn làm nghệ thuật của Donatello có những sự khác biệt đáng kể. Người ta thấy những bức phù điêu thánh Mac, Madona Cherubin, Madona Orlandini, Hạ thánh giá, Lời phán bảo … không đơn thuần là những điển tích trong kinh thánh mà ở đó có những nét rất gần gụi, rất đời thường.`
Nhiều bức phù điêu của ông gắn với các công trình tôn giáo. Ngoài ra, ông cũng miêu tả các anh hùng dân tộc, các sự tích, huyền thoại cuộc sống... Tuy tác tác cả nhưng bức tượng nổi tiếng, nhưng tài năng của ông bộc lộ nhiêu các những bức trạm nổi với nhất chất liệu đá, đồng... Ông mât ngày 13/2/1466 cũng chính ở phờ-lo-ren-xơ thành phố quê hương của ông.
Các tác phẩm tiêu biểu
Điêu khắc của Donatello gắn liền với những kiến trúc Thiên chúa giáo nổi tiếng. Những bức họa lớn và những tác phẩm trên các bức tường ở nhà thờ kể về các huyền thoại, tôn vinh đức Chúa Trời, Đức Mẹ đồng trinh và các Thánh. Vẻ đẹp tiên giới được Donatello chắt lọc từ vẻ đẹp con người và đất nước Italia.

http://www.artchive.com/artchive/d/donatello/donatello_george.jpg


Thánh Georges 1416-1417 Cao 241cm
Được ************c từ đá hoa cương, pho tượng thánh George chiến thắng đứng hiên ngang, với đầy đủ trang phục khiên và giáp trụ, dưới chân có gắn một bức phù điều nhỏ kể về chiến thắng diệt quái thú rồng. Chiến thắng cái ác là chân lý. Đây là một tác phẩm tượng trưng cho nghệ thuật điêu khắc Ý.
http://www.artchive.com/artchive/d/donatello/donatello_entombment.jpg


Bức Hạ Thánh Giá 1449 Stone relief 52 3/4" x 74"
Năm 1430, bức tượng David hoàn thành đưa tên tuổi Donatello vào lịch sử Nghệ thuật Thế giới

http://www.artchive.com/artchive/d/donatello/donatello_david.jpg


David 1430 Đồng Cao 159cm
Một chàng trai trẻ với thân hình đầy sức sống và sức mạnh tinh thần, vừa đánh bại tên khổng lồ Goliat. Dưới chân là chiến lợi phẩm -áo giáp của kẻ thù
http://www.artchive.com/artchive/d/donatello/donatello_feast.jpg



Feast of Herod 1425 Bronze with gilding 60 x 60 cm
Họa sĩ Ma-dắc-xi-ô ( Masaccio , 1401-1428 )
Masaccio (1401-1428), Họa sĩ vĩ của thời kỳ Phục hưng Ý, là nười mở đàu cho nền nghệ thuật thế kỉ 15. Masaccio, ban đầu được đặt tên là Tommaso di Ser Giovanni di Mone Cassai. Cái tên Masaccio là một phiên bản hài hước của Masó (viết tắt của Tommaso), nghĩa là "lớn", "chất béo", "vụng về" hay "lộn xộn" Tom. Tên gọi này có thể đã được tạo ra để phân biệt ông từ cộng tác viên chính của ông, còn gọi là Masó, người được biết đến như là Masolino .
Masaccio sinh ra tại Castel San Giovanni, gần Florence (nay San Giovanni Valdarno, Italy), và tham gia với các hoạ sĩ guild tại Florence năm 1422.
Theo Vasari, Masaccio là họa sĩ tốt nhất của thế hệ mình vì kỹ năng của mình ở con số tái tạo giống như thật và các phong trào cũng như một cảm giác thuyết phục .
Mặc dù sự nghiệp ngắn ngủi của mình, ông đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến các nghệ sĩ khác. Ông là một trong những người đầu tiên sử dụng Linear quan điểm trong bức tranh của ông, sử dụng các kỹ thuật như biến mất điểm trong nghệ thuật lần đầu tiên. Ông cũng đã chuyển từ phong cách Gothic Quốc tế và trang trí công phu của các nghệ sĩ như Gentile da Fabriano cho một chế độ tự nhiên hơn là việc làm quan điểm và chiaroscuro cho thực hơn.
Nghệ thuật của ông là sự tổng hòa của nhiều yếu tố , là người đi sau Ông được thừa hưởng các thành tựu về hình họa từ Giôt-tô .Ngoài ra ông còn tiếp thu phép phối cảnh trong kiến trúc áp dung vào trong hội họa , áp dụng các quan điểm khoa học và mô tả của ánh sáng tự nhiên đại diện cho một bước quan trọng trong sự phát triển của hội họa hiện đại.
Ma-đắc-xi-ô mất sớm , năm ông 28 tuổi .Thời gian sáng tác không dài nen số lượng tranh ông vẽ để lại không nhiều , tuy vậy nó đủ đẻ đánh giá tài năng và thành công cảu ông .Ông xứng đáng là họa sĩ cỡ lớn đàu tiên của Ý thời tiền Phục Hưng .
Các tác phẩm tiêu biểu :

http://it.wahooart.com/A55A04/w.nsf/OPRA/BRUE-5ZKCYX/$File/Masaccio+di+San+Giovanni+-+The+Holy+Trinity+with+the+Virgin+St+John+and+Two+ Donors+.JPG

Masaccio -Chúa ba ngôi ,
Đức mẹ , thánh Giôn
Và các người dân cúng .


http://www.davidscottwritings.com/masaccio.jpg


Masaccio -Đôi vợ chồng
đàu tiên bị đuổi
khỏi vườn địa đàn.

Trong tác phẩm “Đôi vợ chồng đàu tiên bị đuổi khỏi vườn địa đàn “masaccio diễn tả cảnh A-dam và Eva sau khi mắc lỗi bị trừng phạt bằng cách bị đuổi khỏi vườn địa dàng , xuống trân gian , Masaccio đã rất giỏi trong việc thể hiện diễn tả hai cơ thể khỏa thân bố cục trong hình chữ nhật dứng , Chân A-dam còn chưa được bước khỏi cổng địa đàn .Ngoài cái đẹp về hình thể, khối , đạm nhạt tác giả còn nhấn mạnh tâm trạng của hai con người đầu tiên này .A-dam ôm mặt ân haank , còn Eva thì ngưa mặt lên than khóc , đau đớn vì tội lỗi của mình .màu sắc trong tranh nhẹ nhàng trừ mảng đỏ ở hình tượng thiên thần , còn lại tát ca hòa sắc vàng trong sáng. Sự rành mạch đậm nhatjgowij vẻ cứng rắn , khỏe mạnh của cách tạo khối điêu khắc đây là điểm quen thuộc của hội họa Ý giai đoạn đầu phục hưng.
Họa sĩ Bô-ti-xen-li ( Botticelli 1445-1510 )
Botticelli là họa sĩ kết thúc thời tiền phục hưng . Đứng về tuổi tác ông là người cùng thời với Lê-ô-na đờ Vanh-xi .Nhưng Lê-ô-na- đờ Vanh-xi được xếp vào thế kỉ 16 thời đại Phục hưng , còn ông lại xếp vào thời kì tiền Phục hưng, bởi trong những sáng tác của ông thường đề cập tới đề tài thần thoại.
Botticelli sinh ra ở phờ-lo-răng-xơ .Năm sinh của ông chưa thể xác định chính xác “ Lúc 14. 15 tuổi ông theo học nghề kim hoàn .Nhưng ngay sau đó ông bỏ nghề và theo phờ-ra-phi-lip-pô Lip-pi học vẽ.
Đến năm 1465 dưới sự hướng dẫn của thầy ông đã sáng tác bứ tranh đầu tiên.
Năm 1489 , Ông nhận trang trí cho nhà thờ Phờ -răng -xét-cô Goa đi.
Năm 1504 Ông được mời tham gia Ủy ban quyết định vị trí đặt tượng Đa-Vít của Mi-ken-lăng-giơ.
Botticelli mất ngày 17/5/1510. Mặc dù ông qua đời gần 500 năm song những bức tranh với vẻ đẹp chuẩn mực của ông vẫn được công chúng nghệ thuật thế giới nhiều thời đại yêu thích và các thế hệ nghệ sĩ thời đại sau ông học tập.
Các tác phẩm tiêu biểu :
Trong sự nghiệp sáng tác của mình Botticelli đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị và gắn liền với tên tuổi của ông :

http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:2QJG1PLMp-nL8M::&t=1&usg=__4zy0nsJtjpTJYBOyQ0LaG65O3tw=


Ngày sinh của thần Vệ Nữ.(1485)
http://www.minhtuangallery.com/upload/group/1279881495Botticelli%20(2).jpg


Botticelli Mùa xuân (1478 )
tranh Tăm –pe-ra trên gỗ.

Ngoài ra Botticelli còn có một vài tác phẩm khác khác như là “ Truyền tin “1489 Tranh Tăm-pe-ra , Madonna và trẻ em với một Angel (1465-1467) , Tôn thờ của Magi (1475-1476)….
Họa sĩ Lê-ô-na Đờ Vanh-xi ( Lesonar de Vinci 1452-1519 )
Leonardo di ser Piero da Vinci (thường được phiên âm theo tiếng Pháp là "Lê-ô-na đơ Vanh-xi", hoặc phiên là "Lê-ô-nác-đô đa Vin-xi) (sinh ngày 15 tháng 4 năm 1452 tại Anchiano, Ý - mất ngày 2 tháng 5 năm 1519 tại Amboise, Pháp) là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và là một nhà triết học tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý. Tên thành phố Vinci, nơi sinh của ông, nằm trong lãnh thổ của tỉnh Firenze, cách thành phố Firenze 30 km về phía Tây, gần Empoli, cũng là họ của ông. Người ta gọi ông ngắn gọn là Leonardo vì da Vinci có nghĩa là "đến từ Vinci", không phải là họ thật của ông. Tên khai sinh là "Leonardo di ser Piero da Vinci" có nghĩa là "Leonardo, con của Ser Piero, đến từ Vinci".
Năm 12 tuổi ông được nhận học việc trong xưởng vẽ của Verrochio ở Phờ-lo-răng-xơ , một xưởng họa và trường học nổi tiếng. Cũng giống như các học trò khác ,Lê ô na đờ Vanh xi cũng phải học tất cả mọi công việc của việc vẽ tranh hay làm tượng. Cho đến khi thầy cho vẽ một phần nhỏ trong tác phẩm của thầy(nếu được) coi như đã học thành nghề và có thể hoạt đọng riêng lẻ.
Sau khoang 5 năm học vẽ tại xưởng của hạo sĩ Verrochio . Leonardo di ser Piero da Vinci mở xưởng vẽ của riêng mình.
Ông nổi tiếng với những bức hoạ cổ điển của mình như bức Mona Lisa, bức Bữa ăn tối cuối cùng. Ông là người có những ý tưởng vượt trước thời đại của mình, đặc biệt là sự sáng chế máy bay trực thăng, xe tăng,dù nhảy, sự sử dụng hội tụ năng lượng mặt trời, máy tính, sơ thảo lý thuyết kiến tạo địa hình, tàu đáy kép (double hull), cùng nhiều sáng chế khác, khó có thể liệt kê hết ở đây. Một vài thiết kế của ông đã được thực hiện và khả thi trong lúc ông còn sống. Ứng dụng khoa học trong chế biến kim loại và trong kỹ thuật ở thời đại Phục Hưng còn đang ở trong thời kỳ trứng nước. Thêm vào đó, ông có đóng góp rất lớn vào kiến thức và sự hiểu biết trong giải phẫu học, thiên văn học, xây dựng dân dụng (civil engineering), quang học và nghiên cứu về thủy lực.
Năm 1516 vua Phaops Phờ- răng-xoa Đệ Nhất đã đón Ông về pháp. Ông sống trong lâu đài Ăm-bờ-ri-xơ và mất tại đó năm 1519.Khi ông qua đời tát cả tài liệu được một người học trò tâm phúc là Phờ-răng-xe-sco Men gi cất giữ ,xong vẫn bị lưu lạc.
Những sản phẩm lưu lại trong cuộc đời ông chỉ còn lại vài bức hoạ, cùng với một vài quyển sổ nháp tay (rơi vãi trong nhiều bộ sưu tập khác nhau các sáng tác của ông), bên trong chứa đựng các ký hoạ, minh hoạ về khoa học, và bút ký.
Các tác Phẩm tiêu biểu :
Ngày nay, tác phẩm hội họa được nhiều người biết tới nhất của Leonardo da Vinci là bức “La Gioconda”, hay thường được gọi bằng tên “Mona Lisa”. Có lẽ đây là bức chân dung danh tiếng nhất từ xưa tới nay.

http://www.vaisseaudevinci.com/photos/joconde.jpg


Leonar de Vinci -Mô-na-li-da.
Chân dung Mô-na-li-da là sự kết hợp giữa vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp nội tâm , tính cách nhân vật được Ông đặc tả rất thành công. Ngoài việc diễn tả gương mặt của La-giô-công.Nhất là nụ cười của Nàng. Họa sĩ đã nhấn đạm hai khóe môi , kết hợp với những đường cong lên của mắt , mũi , miệng đã tạo ra một nụ cười đặc biệt mà người ta hay nói là một nụ cười bí ẩn.
Một số tác phẩm khác như :

http://a367.yahoofs.com/lifestory/kh4nkmacGRkU8OzfhpCW6bo8SKoZ_1/blog/ap_20091222012539993.jpg?lb_____DDYISMV50


Bữa ăn tối cuối cùng” (1498 )









Lê-da tranh sơn dầu của lê-ô-na-đờ Vanh xi
Và còn rất nhiều tác phẩm khác nữa, đã đưa tên tuổi ông nổi danh khắp thế giới như Đức mẹ Lít-sa , Thánh Jean Baptiste , Đức mẹ và thánh An-na…
Họa sĩ Mi-ken-lăng-giơ Bu-ô-na-rô-ti
(Michl Angel Buonarroti 1475-1564) .
Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni là một nhà điêu khắc, kiến trúc sư, hoạ sĩ và thi sĩ Ý đã có sức ảnh hưởng mãnh liệt đến nền tảng Mĩ Thuật Phương Tây sau này. Cùng với Leonardo da Vinci, ông đã tạo ra giá trị rực rỡ cho thời kỳ Phục Hưng Đỉnh Cao.
Michelangelo tự coi là một người con của thành Florence hào hoa, cho dù ông được sinh ra vào ngày 6-3-1475 tại một khu làng nhỏ của vùng Caprese, gần kề thủ phủ Arezzo. Ông đã có một ràng buộc chặt chẽ với thành phố quê hương, với nền tảng mĩ thuật, văn hoá của thành phố Florence trong suốt cuộc đời mình. Tuổi thanh xuân của ông trôi qua phần lớn tại thành Rome khi làm việc cho các Giáo Hoàng nhưng một tâm niệm luôn day dẳng trong ông là nếu chết thì mong được chôn cất tại Florence. Và tâm nguyện đó đã được hiện thực hoá, ông đã vĩnh viễn siêu thoát trong một khu tưởng niệm tại nhà thờ Santa Croce.
Thân phụ của ông tên là Ludovico Buonarroti Simoni, một quan chức của thành Florence có quan hệ với chính quyền của gia đình Medici, đã gửi gắm cậu con trai 13 tuổi của mình vào xưởng vẽ của hoạ sĩ Domenico Ghirlandaio. 2 năm sau, Michelangelo theo học tại trường đào tạo điêu khắc đặt tại gia viên nhà Medici và không lâu sau ông được mời đến khu biêt thự Tráng Lệ của ngài Lorenzo de Medici. Tại đây ông có cơ hội được làm quen với con cháu nhà Medici, những người sau đó trở thành Giáo Hoàng Leo X và Clement VII. ông cũng trở thành bạn thân của nhà Nhân Chủng học Marsilio Ficino và thi sĩ Angelo Poliziano.
Tất cả những điều này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đén sự nghiệp và phong cách sáng tác của ông sau này . Mi-ken-lăng-giơ say mê nghệ thuật điêu khắc từ nhỏ và ông luôn cho rằng điêu khắc mới là nghệ thuật thực sự.Ông còn cực đoan cho rằng hội họa là công việc cho những người thích nhàn rỗi và cho phụ nữ.Mặc dù vậy trong sự nghiệp của ông đã vẽ nhiều bức tranh nổi tiếng ở nhà thờ Xic-xtin.
Năm 1505 Ông đến Roma theo lời mời của giáo hoàng Juiliusll , được giao trang trí vòm nhà thờ Sixtine ở Vatican.
Năm 1517-1529 Ông tham gia bảo vệ thành phố chống quân của hoàng đé Charles V tràn vào đát Italia để chiếm La Mã .
Năm 1534 Cư trú ở roma, bắt đầu vẽ tanh lớn “Ngày phán xử cuối cùng .
Miken –lăng-giơ mất ngày 18/2/1564 khi chưa kịp tạc xong bức tượng “Hạ xướng cây thập tự “. Ông mất tại Rô-ma .Nhưng thi hài ông được đưa về phờ lo –răng xơ và đặt trong nhà thờ thánh Gra-xơ .
Các tác phẩm tiêu biểu :
Tên tuổi của ông được gắn liền với các tác phẩm như :

http://d.violet.vn/uploads/resources/236/thumbnails2/Pieta-michelangelo.jpg.jpg

P-ét –ta ( 1496-1498 ) tượng đá cẩm thạch
Với tác phẩm này đã đưa tên tuổi và uy tín của ông đến với mọi người. ở tác phẩm này ông đã thành công trong việc diễn tả nỗi đau , lòng thương xót cảu đức mẹ khi bế trên tay Chúa Gie-su đã qua đời. Ông sử dụng thủ pháp đối lập giữa nét mèm mại biểu hiện các nếp áo , váy phong phú đa dạng với mặt phẳng nhẵn ở cơ thể chúa Gie-su.Sự đối lập làm nổi bật hai nhân vật , giữa sự sống và cái chết.


http://d.violet.vn/uploads/resources/492/thumbnails2/0.da_vit.jpg.jpg



Đa-Vít Tượng đá cẩm thach (1501-1504 ).
Mọi chi tiết của tượng Đa-vít có thể nói đều đạt tới sự mẫu mực , chính xác .Quả thực tượng Đa-vít của Mi-ken-lăng-giơ là một mẫu mực hoàn thiên của vẻ đẹp cơ thể con người . Điều này dúng cả nghĩa đen và bóng.
Ngaofi ra chúng ta còn phải kể đến các tác phẩm khác , đã góp phần làm nên tên tuổi của ông như :” Tranh trên vòm giáo đường xic-xtin , Ngày và Đêm , Tương, trong nhà mồ mê-đi-xi ,Chúa tạo ra Adam, Ngày phán xét cuối cùng….
Họa sĩ Ra-pha-en Xăng –ti ( Raphael Santi 1483-1520 )
Danh hoạ Raphael Sanzio, thường gọi là Raphael là 1 trong những hoạ sĩ vĩ đại nhất, hoạ sĩ số 1 của nhà thờ Thiên chúa giáo, tính hoa của thời đại Phục hưng Italia. Trong cuộc đời 37 năm ngắn ngủi của mình, Raphael đã làm nên 1 phong cách hội hoạ và 1 nhân cách có sức hấp dẫn lạ thường, không ngừng làm kinh ngạc và say mê những người yêu chuộng mỹ thuật trên khắp các châu lục.
Raphael cùng với Leonardo Da Vinci, Michel Angelo, Titian trở thành những đại biểu xuất sắc nhất của mỹ thuật phục hưng Italia
Raphael sinh năm 1483 tại Urbino.Cha ông là Giô-va-ni-Xăng-ti một họa sĩ và là thầy đầu tiên của Raphael. Người thầy thứ hai cảu Ông là họa sĩ Pê-ru-ganh.
Năm 1504 Raphael tới Florence – Raphael đã gặp Leonardo da Vinci và Michelangelo đang làm việc ở đây. Raphael đã học tập những nghệ sĩ tài ba đã nổi tiếng này và sang tạo nên những tác phẩm của tiêng mình.
Năm 1508, Raphael được Giáo hoàng Julius II mời tới làm việc tại Roma.
Hai năm sau, khi Raphael vẽ bức Trướng Athenes, ông vẽ bức Đức bà Sistine cho nhà thờ Saint Sixto. Chỉ sau 5 năm tới làm việc tại Roma, khi Giáo hoàng Julius II mất (1513) danh tiếng Raphael đã vang dội. Tài năng và sự uyên bác của ông đã ảnh hưởng to lớn tới giới hoạ sĩ trẻ ở Italia thời bấy giờ, Tiếp theo 7 năm cuối đời của ông, Raphael đã làm việc dưới thời Giáo hoàng Leon X, mặc dù phải đảm đương nhiều trọng trách, giám sát các công trình ở Vatican, ông vẫn lãnh đạo 1 tập hợp đông đảo các nghệ sĩ tài năng, trong đó có Jiulio Romano và Giovan Francesco Penni.
Raphael mất vào năm 1920 ở tuổi 37 trong vinh quang tuyệt đỉnh và sự nuối tiếc vô hạn của bạn bè và những người yêu thích tranh ông.
Các tac phẩm tiêu biểu :
Các tác phẩm gắn liền với tên tuôi của ông như :

http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:DiICL9yhwQUQqM::&t=1&usg=__3qhY1LhDVw4gESNZvyfSNGMR2SE=



Đức Mẹ của Đại công tước .
Tác phẩm này đã dạt đến vẻ dẹp mẫu mực , hoàn hảo về đè tài dạng này . Ở bức tranh này ta vẫn còn thấy phảng phất dáng dấp của Pê-ru-ganh.Tác phẩm thực sự sống độngvà đày sức sống.

http://www.vaticanotours.com/g/raphael_rooms.jpg


Trương học A-ten( 1510-1512)
Trong tác phẩm “Trương học A-ten” Raphaen đã ca ngợi triết học Hy Lap cổ đại , căn phòng với vòng cung lớn .Ở chính giũa tranh là hai nhà triết học Pla-tôn và A-rit-xtot.Với sự xắp xếp các mảng màu ,bố cục chặt chẽ gắn bó diễn tả nhân vật nổi bật trên nền kiến trúc.Phía sau là khung cảu với bầu trời xanh tạo vẻ độc đáo , tự nhiên và hiện thực cho tác phẩm,đồng thời biểu hiện được sựu sâu thẳm của không gian .
Một số tác phẩm khác nữa như Đức mẹ đòng trinh và Chúa hài đồng , Đức mẹ Sl-xtit-ne , Lễ đăng quang, Lễ hứa hôn của trinh nữ….